Những loại thuốc hỗ trợ cai rượu hữu hiệu hiện nay

0
Cập nhật lần cuối

Bạn đang nghiện rượu và không biết phải làm sao để cai rượu. Hãy tham khảo ngay những loại thuốc hỗ trợ cai rượu sau đây nhé.

Uống rượu là một trong những tục lệ đã có từ lâu đời của người Việt. Tuy nhiên việc lạm dụng rượu và trở nên lệ thuốc chúng đã dẫn nhiều người tới những vấn đề sức khỏe không đáng có. Nghiện rượu không chỉ tác động đến sức khỏe sinh lý mà còn ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người bệnh. Có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người nghiện rượu thường có dấu hiệu bệnh hoang tưởng. Bệnh hoang tưởng rất khó chữa khỏi, đòi hỏi người bệnh phải bỏ nhiều thơi gian và công sức chữa trị. Ngoài ra, người bệnh còn có nguy cơ mắc phải những căn bệnh khác như trầm cảm.

Những loại thuốc hỗ trợ cai rượu hữu hiệu hiện nay 1

Tuy nhiên, việc điều trị nghiện rượu cần nhiều thời gian cũng như sự quyết tâm của người bệnh. Nghiện rượu (AD) là một rối loạn mãn tính  có thể đòi hỏi điều trị lâu dài tương tự như chứng tăng lipid huyết và tiểu đường. Người ta tin rằng nhiều chất dẫn truyền thần kinh như các opioids nội sinh, dopamine, serotonin, GABA, và glutamate có thể bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp do uống rượu. Những yếu tố nguy cơ khác như di truyền, môi trường, (quan điểm) văn hóa có thể đóng vai trò đáng kể trong sự phát triển AD.

Bài viết này sẽ giới thiệu một số loại thuốc được sử dụng để cai rượu, tuy nhiên những thông tin này chỉ mang tính chất tham khảo, bạn không nên tự ý sử dụng những loại thuốc này để tránh nguy hiểm tới tính mạng

Mục đích của trị liệu bằng thuốc là giúp người bệnh đạt được sự kiêng khem uống rượu và ngăn ngừa tái phát AD. Có bốn loại thuốc có thể giúp đạt được kết quả này là disulfiram, naltrexone dạng uống, naltrexone dạng tiêm tác dụng kéo dài và acamprosate.

  1. Disulfiram :

Disulfiram là một trị liệu dựa trên việc gây ra sự ác cảm của người bệnh với rượu. Đó là do khi uống vào cơ thể, disulfiram ức chế hoạt động của aldehyde dehydrogenase (ALDHase), điều này sẽ làm tăng mức acetaldehyde trong máu khi rượu được chuyển hóa, dẫn đến người bệnh (khi uống rượu) sẽ bị choáng váng, đỏ bừng, buồn nôn, nôn, giảm huyết áp, loạn nhịp tim, co giật, ức chế hô hấp ( khó thở), nhồi máu cơ tim. Hiệu quả này làm người bệnh mất đi hứng thú khi uống rượu, và sẽ giảm uống.

Mặc dù disulfiram chỉ gây khó chịu như trên chỉ khi người bệnh uống rượu, nhưng khi chỉ uống disulfiram, vẫn có một số tác dụng phụ như lừ đừ, hậu vị kim loại trong miệng, tổn thương gan. Chống chỉ định của disulfiram là : có bệnh tim mạch nặng, dùng chung metronidazole. Điều quan trọng là không sử dụng disulfiram cho đến khi b/n ngưng rượu ít nhất 12 giờ. Hơn nữa, vì disulfiram ức chế ALDHase không đảo nghịch nên b/n phải tránh uống rượu trong vòng 2 tuần sau khi đã ngừng dùng thuốc.

  1. Naltrexone dạng tiêm bắp thịt :

Năm 2006, cơ quan FDA đã chấp thuận dạng thuốc naltrexone tiêm bắp tác dụng kéo dài. Các thử nghiệm trước đây của naltrexone cho thấy sự không tuân thủ điều trị (không uống đủ và đúng liều thuốc naltrexone) là điều đáng quan tâm (khi dùng naltrexone), đưa đến giảm hiệu quả và giảm kết quả tối ưu của trị liệu. Dùng dạng thuốc IM tác dụng kéo dài khắc phục được vấn đề trên. Điều đáng lo với dạng IM này là nó gây phản ứng tiềm tàng tại vị trí tiêm thuốc : viêm quầng, viêm tắc và hoại tử.Nhiều thử nghiệm chứng minh kết quả tích cực với việc sử dụng dạng naltrexone IM này. Trong một thử nghiệm đa trung tâm, ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược, 315 b/n hoặc là dùng naltrexone IM hoặc dùng giả dược, kéo dài trên 3 tháng, đã cho thấy rằng naltrexone IM cải thiện đáng kể tỷ lệ kiêng được rượu so với dùng giả dược (18% so với 10%), và kéo dài khoảng thời gian bắt đầu uống rượu lại. Nói chung, Naltrexone IM cho thấy là một chọn lựa trị liệu an toàn và hiệu quả, đặc biệt có ích đối với những b/n có vấn đề trong sự tuân thủ điều trị.

  1. Acamprosate :

Năm 2004, acamprosate  được cho phép sử dụng ở Mỹ để điều trị AD. Người ta đưa ra giả thiết là do acamposate phục hồi lại sự mất cân đối giữa GABA và glutamate do việc uống rượu gây nên. Người ta còn đưa ra (giả thiết) acamprosate có tác dụng trên thụ thể N-Methyl-D-aspartic acid.

Một số tác dụng phụ của acamprosate là tiêu chảy, nhức đầu, mất ngủ, lo âu, yếu cơ. B/n dùng acamprosate phải hết sức cố gắng  tránh uống rượu; Tuy nhiên, dược động học của acamprosate không bị ảnh hưởng bởi rượu nên phản ứng kiểu disulfiram sẽ không bao giờ xảy ra. Ngoài ra, acamprosate có thể là chọn lựa an toàn hơn disulfiram và naltrexone trên b/n tổn thương gan (suy gan). Tuy nhiên cũng vẫn phải lưu ý đối với b/n suy thận.

  1. Naltrexone :

Là một chất đối vận cạnh tranh thụ thể opoid. Opioid nội sinh được cơ thể giải phóng để phản ứng lại với rượu được uống vào, được xem như là một cách tưởng thưởng cho việc uống rượu. Cơ chế tác dụng của naltrexone như vậy sẽ làm giảm sự thèm rượu của b/n và cũng giảm thiểu sự hưng phấn mà muốn có b/n phải uống rượu mới có được, nhờ vậy việc uống rượu sẽ giảm đi.

Những loại thuốc hỗ trợ cai rượu hữu hiệu hiện nay 2

Tác dụng phụ của naltrexone thường là nhẹ, nhưng tác dụng phụ đường tiêu hoá, nhức đầu, lừ đừ, lo âu, giảm khẩu vị có thể xảy ra. Hiếm gặp nhiễm độc gan liên quan đến liều dùng naltrexone nên việc kiểm tra thường xuyên gan là điều phải nên làm. Do cơ chế tác dụng của naltrexone, triệu chứng cai có thể xuất hiện trên bệnh nhân đang điều trị với opiate, vì vậy b/n nên ngưng opiate ít nhất 7 đến 10 ngày trước khi dùng naltrexone.

Xem thêm :

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng